Mô tả sản phẩm

Rosiglitazone (còn gọi là BRL‑49653) là một thuốc thuộc nhóm thiazolidinedione (glitazone), hoạt động như chất chủ vận thụ thể PPAR‑γ (peroxisome proliferator‑activated receptor gamma). Bằng cách kích hoạt PPAR‑γ, thuốc làm tăng độ nhạy của các tế bào đích (cơ, mỡ, gan) với insulin, giúp giảm tình trạng kháng insulin và cải thiện kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2. Rosiglitazone thường được sử dụng kết hợp với metformin hoặc sulfonylurea khi các thuốc này không đủ hiệu quả.

Mặc dù có hiệu quả trong việc giảm HbA1c, rosiglitazone đã bị hạn chế sử dụng hoặc rút khỏi một số thị trường do lo ngại về nguy cơ tim mạch (đặc biệt là nhồi máu cơ tim) và tăng nguy cơ gãy xương, phù nề. Hiện tại, nó chỉ được kê đơn trong một số trường hợp đặc biệt và dưới sự giám sát chặt chẽ.

Lưu ý an toàn: Rosiglitazone là thuốc kê đơn. Chống chỉ định cho bệnh nhân suy tim (NYHA class III/IV), bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim, bệnh gan nặng, và phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm phù ngoại vi, tăng cân, giảm bạch cầu, và tăng men gan. Cần theo dõi chức năng gan định kỳ và kiểm tra sức khỏe tim mạch. Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh sáng, nhiệt độ 15–30°C. Để xa tầm tay trẻ em.

Tính chất

Bột kết tinh màu trắng đến trắng ngà (White to off‑white crystalline powder) Không mùi hoặc mùi nhẹ đặc trưng Khối lượng phân tử: 357.43 g/mol Điểm nóng chảy: 180‑185°C (phân hủy) Độ tan: ít tan trong nước (~0.1 mg/mL), tan trong DMSO, DMF, ethanol, methanol; ít tan trong aceton và chloroform LogP: ~2.3 (tính toán) Ổn định ở điều kiện bảo quản đúng quy cách, tránh ẩm và ánh sáng mạnh Hút ẩm nhẹ Bảo quản trong bao bì kín, nơi khô ráo, nhiệt độ 15–30°C, tránh ánh sáng trực tiếp

Chưa có nhà cung cấp

Sản phẩm này chưa có nhà cung cấp nào

Gửi yêu cầu tìm nhà cung cấp

Tài liệu tham khảo

Việc tái sử dụng Rosiglitazone gây ra quá trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis) đi kèm với sự suy giảm cơ chế phòng vệ chống oxy hóa ở các tế bào ung thư biểu mô đường mật: Kết quả từ các phân tích chức năng và hệ protein (proteomics).
Pharmaceuticals 2026, 19(1), 44 DOI
Nghiên cứu này khảo sát việc tái định hướng sử dụng rosiglitazone (RSG) – một chất chủ vận thụ thể kích hoạt tăng sinh peroxisome loại gamma (PPARγ) vốn được phát triển để điều trị bệnh tiểu đường – thành một tác nhân chống ung thư biểu mô đường mật (CCA). Sử dụng dòng tế bào CCA KKU-100 có nguồn gốc từ các khối u liên quan đến sán lá gan, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng RSG gây độc tế bào theo cơ chế phụ thuộc vào nồng độ và thời gian. Phân tích hệ protein cho thấy những thay đổi đáng kể trong kiểu biểu hiện protein, đặc biệt là sự gia tăng biểu hiện của các protein gắn canxi (bao gồm annexin A1), protein khung tế bào, enzyme chuyển hóa và protein chaperon, song song với sự sụt giảm các enzyme chống oxy hóa như superoxide dismutase và thioredoxin. Các thử nghiệm chức năng xác nhận rằng RSG kích hoạt quá trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis) thông qua việc tăng hoạt tính caspase-3/7, gia tăng sản sinh các loại oxy phản ứng (ROS) và gây khử cực màng ty thể. Đáng chú ý, chất đối kháng PPARγ là GW9662 không thể đảo ngược các tác động gây độc tế bào và thúc đẩy apoptosis của RSG, cho thấy các tác động này diễn ra theo cơ chế không phụ thuộc vào PPARγ. Phân tích hóa mô miễn dịch trên mô của 111 bệnh nhân CCA cho thấy sự biểu hiện PPARγ có liên quan đến giới tính nhưng không liên quan đến các thông số lâm sàng - bệnh học khác hay thời gian sống thêm toàn bộ, qua đó cho thấy giá trị tiên lượng hạn chế của dấu ấn này. Những phát hiện này làm nổi bật tiềm năng của RSG như một ứng viên điều trị CCA thông qua cơ chế kích hoạt apoptosis qua trung gian ROS, độc lập với con đường tín hiệu PPARγ kinh điển.

Yêu cầu báo giá

Nhận báo giá từ nhiều nhà cung cấp trong 24 giờ

Gửi RFQ ngay

Yêu cầu báo giá

Rosiglitazon - CAS 122320-73-4